Phát hiện sớm một số bệnh ung thư thường gặp

I.    Một số vấn đề cơ bản
II.    Ung thư vú
III.    Ung thư cổ tử cung
IV.    Ung thư đại-trực tràng
V.    Ung thư tuyến tiền liệt
VI.    Ung thư khoang miệng
VII.    Ung thư da
VIII.    Các ung thư khác
IX.    Các dấu hiệu báo động của ung thư

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

Bệnh ung thư (UT) có thể phát sinh từ bất kỳ nơi nào trong cơ thể. Người ta thường gọi tên theo nơi bệnh bắt đầu sinh ra. UT xuất phát từ vú được gọi là ung thư vú, từ phổi được gọi là UT phổi, từ đại tràng (ruột già) được gọi là UT đại tràng… Tổng số có khoảng hơn 200 bệnh khác nhau.

Theo thống kê, có những loại ung thư khá thường gặp như UT vú, UT cổ tử cung, UT dạ dày, UT đại – trực tràng, UT phổi ở nữ; UT phổi, UT dạ dày, UT gan, UT đại – trực tràng, UT vòm họng ở nam. Nhiều ung thư hay mắc ở người lớn tuổi nhưng có những UT lại mắc ở người trẻ. Một số UT hay mắc ở những đối tượng có nguy cơ cao (điều kiện môi trường, lối sống, tiếp xúc với các chất độc hại, tia phóng xạ, tia tử ngoại, nhiễm vi rút,…). Một số bệnh UT dễ xuất hiện ở những người có những biến đổi về gen (do di truyền hoặc mắc phải). Cho đến nay, kết quả điều trị UT lệ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện bệnh ở giai đoạn nào. Ở giai đoạn sớm, hoàn toàn có thể chữa khỏi bệnh ung thư. Ngược lại ở các giai đoạn muộn, điều trị vừa tốn kém, vừa ít hiệu quả, chủ yếu chỉ có thể kéo dài và giảm nhẹ triệu chứng.

Sàng lọc, phát hiện sớm ung thư là gì?

Sàng lọc, phát hiện sớm ung thư là quá trình tìm kiếm những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư trên những người bề ngoài khoẻ mạnh, chưa hề có triệu chứng của bệnh. Sàng lọc ung thư còn được gọi là phòng bệnh cấp 2, nghĩa là đi tìm những dấu hiệu sớm nhất của một bệnh ung thư, để có thể phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm, làm tăng tỷ lệ chữa khỏi và giảm tỷ lệ tử vong do ung thư.

Khả năng phát hiện sớm ung thư

Không phải hơn 200 bệnh ung thư nói trên đều có thể phát hiện được sớm. Một số ung thư có thời gian tiềm ẩn khá dài trong khi một số lại phát triển rất nhanh, khi phát hiện được thì đã ở giai đoạn muộn. Những bệnh ung thư có thể phát hiện được sớm bởi ở những vị trí dễ tiếp cận bằng những phương tiện chẩn đoán hiện nay (như ung thư vú, cổ tử cung, đại – trực tràng…). Các ung thư khác ở sâu, các xét nghiệm hiện nay không đủ khả năng phát hiện khi khối u còn rất nhỏ.

II. UNG THƯ VÚ

Ung thư vú là loại thường gặp nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Trong số các ung thư ở nữ, ung thư vú chiếm tới 35%. Bệnh được phát hiện ở giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi bệnh càng cao. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm giảm dần khi được phát hiện và điều trị muộn hơn. Tỷ lệ đó là 100% nếu được phát hiện và điều trị ở giai đoạn tiền lâm sàng (giai đoạn 0), giảm xuống 95% nếu được phát hiện và điều trị ở giai đoạn I, giảm xuống 80% – ở giai đoạn II, 72% – ở giai đoạn III và đến giai đoạn IV chỉ còn 25%. Có ba phương pháp để phát hiện sớm ung thư vú theo trình tự từng bước như sau:

1. Tự khám vú

Tự khám vú là cách không tốn kém, nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm các khối u ở vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.

Những dấu hiệu cảnh báo bệnh ung thư vú:

– Khối u không đau ở ngực

– Thường xuyên bị ngứa và rát quanh núm vú

– Núm vú bị rỉ máu hoặc bị tiết dịch khác thường

– Làn da trên vú bị sần da cam và dày lên

– Làn da trên vú bị lún xuống hoặc có nếp gấp

– Núm vú bị thụt vào hoặc co lại

– Có hạch ở hố nách.

Khi một phụ nữ có những dấu hiệu trên, chưa hẳn đã là ung thư vú, nhưng cần đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa.

2. Khám vú tại cơ sở y tế chuyên khoa

Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên nên định kỳ đến khám vú tại các cơ sở y tế chuyên khoa, từ 1-3 năm 1 lần. Đối với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, cần định kỳ đến khám, 1 năm 1 lần. Khi phát hiện được khối u vú, có hạch nghi ngờ, thầy thuốc sẽ cho tiến hành các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán xác định.

3. Chụp X quang tuyến vú

Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên cần định kỳ đi chụp X quang tuyến vú (đồng thời với khám vú tại cơ sở y tế). Chụp X quang tuyến vú có ưu thế rõ rệt là có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở tuyến vú ngay cả khi chưa sờ thấy khối u.

Đối với những phụ nữ có nguy cơ cao như đã từng xạ trị vùng ngực trước đây, gia đình có người bị ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng, mang gen, một số hội chứng di truyền, hoặc bản thân bị ung thư vú, u vú đã điều trị thì cần đi khám sớm hơn và theo lịch cụ thể theo từng trường hợp.

III. UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến, đứng thứ hai sau ung thư vú trong các ung thư ở nữ trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong khoảng ba thập kỷ qua, tỷ lệ mắc đã giảm đáng kể ở hầu hết các nước phát triển nhờ chương trình sàng lọc tốt. Hầu hết các nước khuyến cáo phụ nữ sau khi bắt đầu quan hệ tình dục 3 năm nên khám sàng lọc 1 năm 1 lần. Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, sau khi đạt được 3 lần sàng lọc âm tính liên tiếp (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung bình thường) có thể khám sàng lọc thưa hơn, 2-3 năm một lần. Những phụ nữ đã cắt tử cung bán phần (còn cổ tử cung) cũng cần đi khám sàng lọc. Các biện pháp để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung gồm:

1. Khám phụ khoa

Thầy thuốc sẽ kiểm tra cổ tử cung cùng với khám các cơ quan khác trong vùng khung chậu. Người được khám cần nằm trên bàn khám phụ khoa. Thầy thuốc có thể sử dụng mỏ vịt, một dụng cụ để mở âm đạo để có thể quan sát cổ tử cung. Sau khi làm xét nghiệm tế bào học âm đạo, thầy thuốc có thể sẽ khám phụ khoa bằng tay (một tay thăm trong kết hợp với một tay ở bên ngoài nắn vùng bụng dưới), khám hạch vùng (hạch bẹn). Khám phụ khoa cũng có thể tiến hành cùng dịp với khám vú.

2. Xét nghiệm tế bào học âm đạo

Phương pháp còn có tên xét nghiệm Pap, được thực hiện trong khi khám phụ khoa. Thầy thuốc sẽ lấy tế bào trên bề mặt cổ tử cung và âm đạo bằng một que gỗ hoặc nhựa hoặc bằng một bàn chải nhỏ hoặc bằng tăm bông. Các tế bào sẽ được phết lên một phiến kính, nhuộm và soi trên kính hiển vi. Phương pháp khá chính xác, cho phép phát hiện những biến đổi rất sớm của tế bào.

Trong vòng 48 giờ trước khi xét nghiệm, người phụ nữ không nên thụt rửa âm đạo, không quan hệ tình dục, không đặt nút gạc, các loại bọt, keo tránh thai hoặc các loại kem, thuốc đặt âm đạo. Những ngày có kinh, phụ nữ không nên làm xét nghiệm này.

3. Nghiệm pháp axít axêtic

Nghiệm pháp axít axêtic hay còn gọi tắt là VIA (visual inspection with acetic acid) là nghiệm pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch axít axêtic 3-5% và quan sát bằng mắt thường để phát hiện những bất thường bao gồm các tổn thương tiền ung thư. Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, tương đối chính xác, có hiệu quả cao.

4. Nghiệm pháp Lugol

Là nghiệm pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch Lugol 5% và quan sát bằng mắt thường. Bình thường các tế bào bề mặt của cổ tử cung bắt màu nâu khi chấm dung dịch này. Nếu lớp tế bào này bị mất đi thì sẽ không có hiện tượng này mà thường biểu hiện bằng màu vàng hoặc nâu nhạt. Đây cũng là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, có hiệu quả.

5. Soi cổ tử cung:

Sử  dụng một máy soi phóng đại hình ảnh cổ tử cung (từ 2 đến 25 lần) để quan sát tổn thương dễ dàng. Có thể soi cổ tử cung kết hợp chấm axít axêtic hoặc dung dịch Lugol nói trên. Soi cổ tử cung khi các xét nghiệm nói trên bất thường, hoặc nghi ngờ bất thường khi kiểm tra bằng mắt thường.

Khi phát hiện các tổn thương nghi ngờ tại cổ tử cung, thầy thuốc sẽ làm sinh thiết (lấy một mảnh nhỏ, nhuộm, soi trên kính hiển vi) để chẩn đoán.

IV. UNG THƯ  ĐẠI – TRỰC TRÀNG

Ung thư đại – trực tràng có tỷ lệ mắc đứng hàng thứ 3 và là nguyên nhân tử vong do ung thư đứng thứ 2 ở nhiều nước trên thế giới. Bệnh gặp nhiều hơn ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển. Tuy nhiên ung thư đại – trực tràng đang có xu hướng tăng mạnh ở nước ta trong những năm gần đây. Các biện pháp sàng lọc, phát hiện sớm ung thư đại – trực tràng bao gồm:

1. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân

Các polyp hoặc khối u ác tính của đại tràng và trực tràng dễ bị chảy máu khi phân đi qua. Khi máu chảy với số lượng ít sẽ không thể thấy được bằng mắt thường. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân, có thể phát hiện lượng máu nhỏ này. Một số loại thuốc, thức ăn có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Do vậy, cần theo hướng dẫn của thầy thuốc trước khi làm xét nghiệm.

Những người có xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính sẽ có nguy cơ cao bị ung thư đại –  trực tràng,  cần soi toàn bộ đại tràng.

Mọi người từ 50 tuổi trở lên cần làm xét nghiệm máu ẩn trong phân hàng năm. Những người có nguy cơ cao như tiền sử bản thân hoặc gia đình bị u tuyến, các hội chứng đa polyp hoặc ung thư đại –  trực tràng, các bệnh viêm ruột … nên được làm xét nghiệm máu ẩn trong phân cùng các biện pháp khác ở độ tuổi sớm hơn theo lời khuyên của thầy thuốc.

2. Soi toàn bộ đại tràng

Soi toàn bộ đại tràng là phương pháp tốt nhất hiện nay trong sàng lọc ung thư đại – trực tràng. Người ta dùng ống soi mềm có đầu soi để quan sát được toàn bộ đại tràng. Trong khi soi, nếu phát hiện các tổn thương nghi ngờ ung thư hoặc tiền ung thư, người ta tiến hành sinh thiết hoặc lấy bỏ các tổn thương này để chẩn đoán và điều trị. Soi toàn bộ đại tràng cũng được bắt đầu ở độ tuổi 50, cùng với làm xét nghiệm máu ẩn trong phân và có thể thay thế soi đại tràng sigma. Tùy thuộc tổn thương được phát hiện khi soi mà khoảng cách các lần sau có thể từ 3-10 năm/lần.

3. Thăm trực tràng bằng tay

Trước đây, phương pháp này được đề xuất trong sàng lọc ung thư trực tràng. Nếu chỉ dùng đơn thuần phương pháp này sẽ bỏ sót các bất thường trong đại tràng bao gồm cả ung thư. Đến nay, thăm trực tràng bằng tay ít được sử dụng để sàng lọc ung thư đại – trực tràng.

V. UNG THƯ  TUYẾN TIỀN LIỆT

Ung thư  tuyến tiền liệt gặp nhiều ở các nước phát triển hơn so sới các nước đang phát triển. Ngày nay tỷ lệ chết do bệnh này được giảm rõ rệt nhờ khám sàng lọc phát hiện sớm.

Để phát hiện sớm người ta khuyên nên khám tuyến tiền liệt qua thăm trực tràng bằng tay kết hợp với xét nghiệm PSA hàng năm (loại chất chỉ điểm u đặc hiệu trong ung thư tuyến tiền liệt) áp dụng cho đàn ông từ 50 tuổi trở lên. Ngoài ra, người ta có thể kết hợp với siêu âm nội trực tràng và chụp cắt lớp vi tính vùng tiểu khung để xác định chính xác hơn.

VI. UNG THƯ KHOANG MIỆNG

Ung thư khoang miệng là loại ung thư hay gặp của vùng đầu cổ, liên quan nhiều tới hút thuốc lá, ăn trầu, uống rượu… Để có thể phát hiện sớm, mỗi người nên quan sát khoang miệng qua soi gương mỗi khi đánh răng hàng ngày. Khi thấy những vết, mảng hơi đỏ hoặc trắng ở niêm mạc miệng, vết thương ở khoang miệng khó liền, chảy máu ở khoang miệng, vết loét hoặc những nốt sùi, há miệng bị hạn chế, sờ thấy u, cục bất thường ở vùng đầu cổ cần đến bác sỹ chuyên khoa khám.

Nên đi khám kiểm tra ung thư khoang miệng 3 năm 1 lần đối với người trên 20 tuổi và hàng năm đối với những người trên 40 tuổi, đặc biệt những người hút thuốc lá, thuốc lào. Ngoài quan sát trực tiếp hoặc qua gương, thầy thuốc có thể kết hợp kiểm tra bằng tay đeo găng.

VII. UNG THƯ DA

Ung thư da là một trong các ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán bằng mắt thường, có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm. Để phát hiện sớm bệnh này, mọi người có thể tự quan sát toàn bộ da cơ thể, đặc biệt là các vùng da hở, tốt nhất là sau mỗi lần tắm.

Những biểu hiện của ung thư da có thể là: vết loét dai dẳng, thỉnh thoảng chảy máu, nổi cục có thể ở vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời hoặc do tia xạ hoặc ở một vết sẹo hoặc đường rò hay chỉ một vết đốm đỏ nhạt kéo dài dai dẳng với xước trợt nhẹ.

Một loại ung thư da là ung thư hắc tố rất hay liên quan đến các nốt ruồi. Cần lưu ý các dấu hiệu như: thay đổi về màu sắc, hình dạng, kích thước, đường viền, bề mặt các nốt ruồi hoặc có cảm giác ngứa, chảy máu hoặc chảy nước vàng ở nốt ruồi.

Để phát hiện sớm bệnh ung thư da, mọi người nên đi khám định kỳ 3 năm 1 lần ở độ tuổi 30-39 và khám hàng năm sau tuổi 40. Những người có nguy cơ cao như tiền sử gia đình hoặc bản thân bị ung thư da, bị những bệnh da có nguy cơ chuyển thành ung thư hoặc những người thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần đi khám đều đặn.

VIII. CÁC UNG THƯ KHÁC

IX. CÁC DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG CỦA UNG THƯ

Áp dụng chung cho các loại ung thư, nên chú ý tới các dấu hiệu báo động sau đây:

Khi có các dấu hiệu nêu trên, không có nghĩa là đã mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên nếu có bất kỳ một trong các dấu hiệu đó, mỗi người cần đến ngay các cơ sở chuyên khoa để được khám, điều trị và được nhận những lời khuyên thiết thực.